Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2026

Quê Hương Thời Mới Lớn

 Trầm Vũ Phương  

Cách nay khá lâu tôi có đọc cuốn khảo luận Trên Đất Kiên Giang của Ly Châu Lý Minh Hào. Xin nói thêm tác giả là một cựu học sinh trung học Nguyễn Trung Trực. Hai câu thơ trong sách làm cho tôi nhớ tới Đường Xuồng, một địa danh nổi tiếng của Kiên Giang xứ sở mình.

Gió Kiên Giang chưa ngồi đã ngấm
Rượu Đường Xuồng chưa nhấm đã say 

Tôi có dịp đi vô Đường Xuồng một lần sau năm 75. Lúc đó tôi đâu còn xe Honda nên phải chạy xe đạp. Quê nội tôi ở Cù Là, ở đó có nhà người cô và nhà hai người bác.Mấy đứa con của người bác thứ bảy chơi thân với tôi hơn. Họ rũ tôi đi Đường Xuồng đến nhà một người bà con là cô hai Nĩ cho biết. Đường Xuồng thì thật sự chưa có đi nhưng có nghe, còn cô hai Nĩ thì có nghe nhưng chưa bao giờ gặp. Thế là mấy anh em lọc cọc, lạch cạch đạp xe từ Cù Là đi về hướng Giồng Riềng, Gò Quao. Trong lúc đạp xe thì người này nói chuyện với người kia mới khám phá ra là cả đám chưa ai biết cô hai Nĩ! Câu chuyện bắt đầu từ một người con của cô từ quê ra tỉnh học, anh này coi vậy mà được quá xá, không biết bằng cách nào mà ảnh nhìn ra bà con. Khi nhận diện được phe ta thì ảnh bày trò anh hùng hội ngộ đem tặng mấy chai rượu Đường Xuồng, rồi sau đó mời cả đám về liễu gia trang cho biết. Hởi ơi! Đường lộ sao thấy thảm quá, tôi cũng chẳng có gì ngạc nhiên vì khói lửa chiến tranh bao trùm làng xóm đâu có chừa con lộ này. Nhìn những chiếc xe đò chạy đường Giồng Riềng, Gò Quao, chiếc nào cũng mang thương tích đầy mình đầy mẩy. Trong lớp tôi có mấy bạn học Kiên Thành, họ phải ở nhờ trong thánh thất Cao Đài lâu lâu mới về trong đó. Ngã ba Rạch Sỏi trước 75 có dựng tấm bảng chỉ đường, mũi tên chỉ về hướng Giồng Riềng, Gò Quao có để tên một địa danh rất thơ mộng là Long Mỹ. Đến Long Mỹ là hết đường, là lọt qua địa phận tỉnh Chương Thiện. Miền tây gạo trắng nước trong còn Chương Thiện từ lúc thành lập đã là đồng không mông quạnh, tiếng súng thay lời ru, kẻ đào hầm nhiều hơn người lên liếp.

Nhà cô hai Nĩ nằm trong xóm trải dài theo con kinh đào, có vài chiếc xuồng của người đi câu chầm chậm bơi qua, có một cái vó cá chiếm hết nữa lòng con rạch thong thả hạ càng. Từ ngoài đường đi vô khoảng vài trăm thước là bọn tôi đã thấy cô hai Nĩ với dượng đứng đón trước sân nhà, tuy là phận con cháu nhưng vì lâu ngày quá không gặp nên tự nhiên biến thành khách quý. Cô dượng vui vẻ nhưng cứ nhìn tôi rồi nói: “ Chèn ơi! Con chú tám đây hả. Dữ hông bây giờ coi lớn bộn. “   Tôi lúc đó ăn mặc theo lối ở chợ với lại biết tôi học hết trung học trường tỉnh nên có vẻ chú ý. Hết cô dượng rồi đến mấy đứa con cũng nhìn tôi y như vậy. Cô con gái lớn tên Mộng chắc trạc tuổi tôi có mái tóc dài chấm lưng, mặc bộ bà ba gọn gàng chưa biết tôi tên gì đã kêu bằng anh ngọt sớt. Nghề làm rượu nhà cô hai Nĩ không biết có từ hồi nào đến lúc tôi với đám con người bác đến chơi vẫn còn. Cô Mộng là người chuyên thử rượu nên lúc nào hai má cô cũng hồng hồng, người ta nói con gái ở Đường Xuồng tửu lượng còn cao hơn đám trai làng. Nhà ở vùng quê đều có vài cái võng, mẹ ngồi trên võng đong đưa cho con bú khi con ngủ thì có nhịp võng kẽo kẹt ầu ơ. Chắc cô Mộng lớn lên theo nhịp võng đưa hay sao mà cô lựa lúc cái võng giục về phía tôi thì cô nhìn xuống đất còn lúc nhịp võng đưa ra xa thì cô liếc về phía tôi rồi hỏi anh ở chơi đây bao lâu vậy? Đúng là rượu Đường Xuồng chưa nhấm đã say!

Quê hương ngày em lớn là tên một bản nhạc của nhạc sĩ Trầm Tử Thiên. Ổng sáng tác bản này lâu lâu lắm nhưng sao tôi nghe vẫn thấy hay và thắm.  Nếu viết hết ra đây lời ca thì nó dài dòng chỉ nội một câu sau đây cũng đáng đồng tiền bát gạo:

Giờ đây em lớn lên mau, nhờ điệu ca dao với căm hờn pha trắng sửa.

Ai trong chúng ta mà không lớn lên nhờ bầu sửa mẹ? Ai trong chúng ta mà không yêu nước qua điệu ca dao đầy tình tự quê hương? Nhưng ông Trầm Tử Thiên nói rõ hơn chớ không mờ mờ ảo ảo, trong giòng sửa mẹ nuôi con có pha những nhọc nhằn gian khó, có khóc có cười theo vận nước nổi trôi. Những ngày vác ba lô về xã Thạnh Hưng thuộc huyện Giồng Riềng tôi cũng vừa mới lớn. Chín mái đầu xanh năm nam bốn nữ đều là dân thị xã có người vừa mới buông bút rời khỏi chiếc ghế nhà trường để vào làm lính cho ông Ba Cần tập kết. Ông là người miền nam nhưng có lẽ ra bắc lâu nên nghĩ đám trẻ này na ná như dân quân du kích. Ông hay đọc câu này trong thơ Tố Hửu:

Bàn tay ta làm nên tất cả. Với sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

Thật ra ông Ba Cần đem con bỏ chợ. Ổng vọt đi đâu mất tiêu để tụi tui bơ vơ giữa đồng chó ngáp. Láng trại thì chưa thấy chỉ có vài cây rơm cũng hên có một cây loại trăm bầu cho chút bóng mát buổi trưa. Gạo đem theo nấu được nồi cơm cũng mừng rồi mạnh ai đi kiếm rau cỏ gì ăn được cũng xong bữa. Hồi nhỏ tôi với mấy đứa cùng xóm hay chạy ra cánh đồng giởn quanh mấy cây rơm, trò chơi cúp bắt thú vị nhất là ở đây, cứ nhào vô cây rơm mà trốn, trốn một mình có khi hai ba đứa chung một ổ. Đâu ngờ bây giờ cái trò đó lại tái diễn ở đây. Mỗi người khoét một lỗ để chui vô ngủ, cái điệu này sao giống như đi vùng kinh tế mới, vậy mà trong toán có thằng em nhà ở Rạch Sỏi, không biết sao nó còn nhớ có một người bà con cũng ở vùng này, nó dẩn cả đám đi theo vòng vo qua mấy cánh đồng, đi mà không biết đúng không cứ đi đại. Một lúc sau thấy phía trước có một đám nhà cứ nhắm hướng đó mà đi tiếp. Gia đình người Hoa này gặp thằng em coi bộ mừng lắm nhưng thấy nó kéo theo một bầy thì sinh ra lo. Lo thì lo nhưng cũng bắt gà làm tiệc, làm sao diễn tả được cái món gà xé khoai tuyệt vời trong hoàn cảnh bị lãnh đạo bỏ rơi này. Lâu quá không nhớ nó bà con như thế nào với gia đình này với lại đâu có ai hiểu tiếng tàu nhưng phải nói cái chuyện thằng em tìm ra được nhà bà con ở Thạnh Hưng là cả một kỳ công không thể quên. Một đêm Kim Thuận chui vào ổ rơm của tôi để nói chuyện, nàng nhớ nhà muốn bỏ về thị xã chớ ở đây hoài mà không biết ông ba Cần đi đâu. Tôi đem ý đó hỏi cả đám nghĩ làm sao thì như gãi đúng chổ ngứa cả bọn nhất trí phải về. Sáng sớm hôm sau thu dọn chiến trường lưng mang tay xách, người trước kẻ sau lần theo con đường mòn nối từ cánh đồng chó ngáp đi ra tận bờ kinh xáng để bắt chuyến tàu đò sớm nhất. Hình như ông Ba Cần có gài tình báo để theo dõi vì có một anh chàng bảo là có nhà trong khu xóm gần đây gọi ông Ba Cần là chú, anh chị có cần gì thì sẳn sàng giúp. Có lẽ hắn tới đám ruộng thăm chừng không thấy ai nên báo động.

Cả đám vừa đi vừa tính khi về thị xã thì đến trình diện Ban Giám Đốc và xin tạm chuyển qua khâu khác công tác khi nào ở đây xây dựng xong sẽ trở về. Thời gian đó có nhiều sinh viên dược khoa đã tốt nghiệp hay học dang dở từ Sài Gòn bị điều về tỉnh, quận còn bọn tui mới bước vô công ty dược phẩm Kiên Giang thì bị đẩy xuống xã Thạnh Hưng điếm cỏ cầu sương. Nhớ lại đêm cuối nằm chung với thằng em trước khi đi Thạnh Hưng, tên nó trùng với tên tôi, chị nó học cùng cấp lớp với tôi chớ đâu có ai xa lạ. Nó ca bản Mùa Thu Lá Bay bằng tiếng tàu nghe mùi như cơm rượu: “ Pù chừ táo quay leo sơ mò. . .  giáo sáo tao quây lều sứ moa. . . Mầy mò thênh tan chái si tao. . . thoại can cháo ai ti chỉ mo . . . “  Đi bộ ra tới ngoài bờ kinh xáng mới thấy có nhà dân, không biết khoảng mấy giờ nhưng nhịp sống đã bắt đầu. Thấy có chiếc võng đong đưa dưới gốc dừa, cả bọn tuột vội ba lô, giỏ xách xuống đất định nghỉ mệt thì người nằm võng bất thần ngồi dậy làm Kim Thuận rú lên: “ Úy trời, bác ba hả? “. 

_ Ghe chở cây vài ngày nữa sẽ tới để mình cất láng trại rồi khai hoang trồng cây thuốc, mấy anh chị muốn về sao không nói với tôi một tiếng!

Trên chiếc đò trở về, mọi người đều suy nghĩ miên man, Kim Thuận, Thanh Phụng, Ngọc Đẩu, Thiệt và tôi chắc tìm hướng đi khác, đò ghé bến An Hòa điểm chia tay của những người quê hương thời mới lớn. Đường đi Long Mỹ ngày xưa bị đặt mìn, bị đắp mô dù biết có bà con ở Đường Xuồng nhưng không gặp, còn sau 75 đi ghe vô tới Thạnh Hưng ăn bờ ngủ đống rơm, một nơi là xứ rượu một nơi là nắng gió sương sa đủ làm cho lòng tôi nhớ nhớ thương thương./.


Trầm Vũ Phương
20 tháng giêng 2026

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét