Trầm Vũ Phương
Tôi luôn có cảm giác thích thú khi có dịp lái xe dọc theo chân đê của dòng sông Mississippi. Khung cảnh thoáng mát và êm đềm, nếu là người có tâm hồn thích hòa mình vào thiên nhiên thì đây là một nơi như thế. Một bên là bờ đê cao phủ lên mình lớp cỏ non mượt mà, còn bên kia là nhà của cư dân có vườn cây vây quanh, có ao phun nước, có đàn ngựa chầm chậm tới lui sau dãy hàng rào sơn trắng. Cuộc sống yên bình này dường như kéo dài từ thời lập quốc. Nhưng, có một đoạn bên kia bờ đê, nơi có những chiếc cần cẩu cao cao kia lại là một nơi rất khác, khác đến nỗi không ai nghĩ rằng nó có liên hệ đến nhiều cuộc chiến trên thế giới.
Nếu du khách có dịp ghé vào viện bảo tàng thế chiến thứ hai tại New Orleans sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi biết được rằng hàng trăm chiếc tàu đổ bộ sử dụng tại bờ biển Normandy đã được đóng tại bờ đê này, bờ đê của con sông dài chảy xuyên qua trái tim nước Mỹ.
Tôi có cái duyên với xưởng đóng tàu bên bờ đê con sông này. Vào thời gian cuối của thập niên 80, tôi lưu lạc đến đây với cái vali xẹp lép, đứt quay. Trong lúc chen chân ở phòng trợ cấp thất nghiệp thì gặp và quen thi sĩ Nguyễn Khánh Hòa, anh khuyên tôi đến xưởng đóng tàu mà tìm việc, tôi nghe lời đến đó. Phòng nhận đơn đầy người chờ được kêu phỏng vấn, tôi nghĩ chắc lâu lắm mới tới phiên mình nên lái xe về nhà lục cơm nguội rồi trở lại. Bố vợ biết chuyện trợn mắt bảo:” Đi xin việc kiểu này có ma nó mướn.” Khi quay trở lại mới biết họ có gọi tôi, tôi bịa chuyện có việc khẩn cấp phải về nhà chắc họ không tin nhưng cuối cùng cũng nhận.
Cả nước Mỹ chỉ có bốn cái xưởng đóng tàu chiến. Cái xưởng tôi vào làm có bảy ngàn nhân công, chia ra làm ba ca. Tôi nhìn mà tối mắt chiếc này chưa xong thì chiếc khác đã xong phân nửa, chiếc này đang sơn thì chiếc kia xuống nước rồi cho nên Mỹ đã làm chủ đại dương trước khi vươn tay tới sao kim, sao hỏa.
Có rất nhiều loại tàu chiến, tàu tiếp liệu, tàu phá băng. . .. được đóng tại đây, trên một mảnh đất nhỏ xíu bên bờ sông, từ những mảnh sắt thép ghép lại tôi không thể tưởng được con người có thể biến khối sắt thép đó thành những con rồng biển chực chờ lao mình ra khỏi lòng sông chật hẹp để vẫy vùng trên khắp đại dương mênh mông. Mới dự lễ hạ thủy khu trục hạm Green Bay, một tuần sau xem tivi thấy tàu đã lênh đênh vùng Địa Trung Hải. Tôi nhớ khi đóng chiếc khu trục hạm New York, theo kế hoạch ban đầu khối sắt vụn của hai tòa tháp đôi sẽ được dùng để đóng tàu, nhưng sau đó người ta chỉ đặt vào lòng tàu một thỏi sắt tượng trưng, không biết thỏi sắt đó nó còn mang mùi máu của hàng ngàn người dân vô tội chết trong tòa tháp đôi ngày 11 tháng 9 năm 2005 hay không nhưng chắc chắn linh hồn họ vẫn còn quanh quẩn theo tàu. Khu trục hạm New York mang theo mình thỏi sắt từ tòa tháp đôi để nhắc nhở mọi người về một biến cố mà người dân Mỹ sẽ mãi mãi ghi nhớ.
Thường thì sau khi tàu đóng xong thì tới giai đoạn thử tàu (sea trial), tàu sẽ đi ra cửa sông Mississippi để vào Vịnh Mexico, có một trở ngại là gần xưởng đóng tàu có một chiếc cầu bắc qua tên là cầu Huey P. Long Bridge, cầu này nhiều lần bị đụng nên tàu bè hết sức thận trọng khi qua lại. Vì vậy phải đợi lúc thủy triều xuống thấp thì tàu bắt đầu chui qua, rút kinh nghiệm những lần trước hạm trưởng hạ lệnh cho bơm nước vào để tàu bớt độ cao. Khi tàu chạy ngang qua thành phố New Orleans, người dân hân hoan dù chỉ là chuyến đi thử nhưng với họ người dân Mỹ không khỏi tự hào ngưỡng mộ. Lá đại kỳ được kéo lên trên tháp chỉ huy ngạo nghễ tung bay trong gió vừa mang ý nghĩa biểu dương sức mạnh vừa thách thức mọi trở ngại gian nan.
Đi thử tàu mà được đi trên những chiếc khu trục hạm tối tân ai cũng muốn đi. Sinh hoạt trên tàu của nhóm thợ chẳng khác gì anh em thủy thủ. Cảnh hoàng hôn trên biển có làm cho lòng người say đắm con tàu hình như cũng biết vậy nên nó tiến chầm chậm về vùng nước còn lấp lánh ráng chiều. Mọi người được lệnh tuyệt đối không sử dụng điện thoại thông minh, tàu đi vào vùng nước sâu, tránh xa hải trình của các tàu hàng quốc tế, tọa độ con tàu luôn thay đổi. Hồi trước mình cứ nghĩ một cách ngây thơ là tàu chiến dễ làm mồi cho những chiếc tàu ngầm nhưng thực tế tàu ngầm không dám bén mảng đến gần các khu trục hạm vì sợ bị luộc bởi ngư lôi torpedo. Đi theo tàu kỳ này có anh Thuận là chuyên viên gắn thiết bị máy móc cho phòng chỉ huy khu trục hạm, biết tôi thích văn thơ nên anh chuyển cho tôi bài thơ khá là hay, xin phép được chép ra đây:
Lá Thư Từ Đại Dương
Nhớ tràn ngập không gian
Thương dâng tràn lớp sóng
Viết cho em, viết cho em
Bằng nỗi nhớ bao của biển trời
Dòng thư say, dòng thư trôi
Dòng thư cuống quýt, miệt mài
Chảy mãi tận hồn anh
Ôi! Nước bao la đến ngàn trùng
Ôi! Nước xa xăm đến ngàn trùng
Ta muốn viết hết, ta muốn viết hết
Vần thơ đang rên xiết, đang miên man
Trong cơn điên của tình
Đại Tây Dương xa xăm
Thái Bình Dương miên man
Thư cho em vẫn mặn nồng
Từ Bắc Băng Dương
Từ Nam Băng Dương
Thư cho em vẫn mát, vẫn thơm
Dòng nước cho em vẫn mát ngàn đời
Vần thơ cho em vẫn mãi còn dài
Vì em mãi mãi bên ta
Bên những ngày xanh bát ngát
Vì em mãi mãi bên ta
Trong những đêm sao sáng ngập trời
Ánh mắt em đã đan thành vì sao Thiên Long
Dẫn đường anh đi
Có lần tôi đi dọc theo các bãi đậu tàu, tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy cây điên điển đứng chơi vơi bên bờ nước đang trổ bông vàng. Quê người mà sao cũng có bông điên điển. Không biết nó hiện diện bên bờ sông này hồi nào mà các bạn đồng nghiệp không ai thấy, tôi ve vuốt từng chiếc lá, từng cái bông. Một góc trời quê hương hiện ra trong ký ức.
Mùa đông đến đem theo gió rét, lạnh lùng. Tối ngày làm việc trong lòng tàu nên không để ý thời tiết bên ngoài. Có khi công việc cần xong gấp, một số thợ được yêu cầu ở lại làm thêm. Tiếng còi hết ca vang dậy, tôi theo đoàn người chuẩn bị rời tàu, khi đến chân cầu thang chuẩn bị bước xuống thì bị một bàn tay nắm áo tôi kéo ngược về phía sau, xếp lớn bảo tôi phải ở lại. Lúc ấy hàng dây đèn đã bật sáng nơi cửa đi vào, một màn mưa bụi từ đâu thổi thốc vào bên trong. Qua ánh đèn mờ mờ, cơn mưa bụi vẫn giăng giăng khắp nơi. Hình ảnh gợi nhớ về dĩ vãng, những người trai nặng nợ sông hồ dứt áo ra đi có lẽ cũng đôi lần gặp cơn mưa bụi, cơn gió lạnh mùa đông. Tôi sực nhớ bài thơ Đôi Bờ của Quang Dũng:
Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến
Quạnh vắng chiều sông lạnh bến tề
Con tàu là phòng tuyến nằm cạnh bến sông trong chiều đông lạnh, còn lại tốp thợ lưa thưa, giờ này họ nghĩ đến người vợ hiền đang chờ cơm, nghĩ đến đứa con nhỏ đang chờ cha về với nó. Đứng trên boong tàu nhìn về phía cầu Huey P. Long, đèn đóm sáng rực, bên kia cầu là nơi phố xá phồn thịnh sầm uất, bên này là xưởng đóng tàu và một đường rầy xe lửa chở nông phẩm về phía bắc.
Hai cái bar rượu nằm hai đầu, là tụ điểm của đám công nhân trẻ, sau giờ làm việc họ chạy xe thẳng tới đây uống bia rồi tán gẫu. Khoảng giữa hai cái bar này bên ngoài hàng rào là chiếc xe bán đồ ăn sáng và trưa. Mấy người đồng nghiệp Mỹ trong toán thường ra đây mua đồ ăn, tôi thấy có anh vừa cầm hộp đồ ăn vừa nói: “ Beautiful! ” tôi hỏi chắc đồ ăn ngon lắm hả. Anh bạn trả lời: “ Không, người đẹp, cô bán hàng đó mà “. Không ngờ mười hai năm sau khi đi bách bộ trong xóm gặp một đồng hương đạp xe đạp đi loanh quanh, sau khi chào hỏi làm quen mới biết chiếc xe bán đồ ăn trước cổng xưởng đóng tàu là của vợ chồng anh. Hỏi thăm về gia thế thì anh nói cô vợ đã bỏ anh đi xây tổ uyên ương với người khác lâu lắm rồi./.
Trầm Vũ Phương
Lễ Lao Động 7 tháng 9, 2026.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét