Khi tôi lội về tới bến nhà thì thấy má tôi đứng chờ ở đó. Hồi hộp không biết chuyện lành hay dữ. Nhưng đỡ cái không thấy cây roi mây, má chỉ tay xuống nước rồi biểu tôi mò con cá lóc. Úy trời! Phạt gì độc quá vậy má ôi! Con mò cái gì thì được chớ mò cá lóc thì thua. Thôi cho con mò cái khác đi má. Thấy tôi còn ngần ngừ má nói con cá còn ở đây này, tao chặt kỳ, đánh vảy nó rồi vậy mà nó còn sức nó vuột ra khỏi tay má. Hồi nãy thì tôi ghét cây roi mây bây giờ thì tôi lại thương cho thân mình, chân tôi quờ quạng một hồi thì đụng con cá lóc, nó mềm mềm, chao qua chao lại, thôi mày lên đây cho tao đỡ mệt với má tao.
Hồi học Kiên Thành, tôi hay ghé sạp bán báo ở bến xe mua mấy bản nhạc ăn khách hồi đó rồi tự hào mình cũng là người yêu văn nghệ, đến khi ra học ngoài Nguyễn Trung Trực cũng hay tạt vào nhà sách Tấn Hóa để mua tiểu thuyết của Duyên Anh, nhưng có một lần tôi mua thử tạp chí Ngày Nay trong đó có một bài viết của một đọc giả gởi đăng, bài có tựa đề “ Ruộng sạ trường giang ươm khói sóng “. Tôi đọc mà cứ nghĩ tác giả phải là người từng đi qua con sông đào làng tôi, con sông cũng có khói sóng vào buổi sớm mai, cũng dẫn nước ngọt vào ruộng sạ rồi thêm hình ảnh mấy chiếc máy cày được chở trên những chiếc chẹt ( loại phà nhỏ chỉ để chở một chiếc máy cày thôi) ngược xuôi trên mặt sông để rồi sẽ thay trâu cày vỡ đất trên những cánh đồng bao la bát ngát. Có lần trên đường đi học về tới đầu kinh tư thấy lố nhố người đứng trên bờ chỉ trỏ đủ thứ tôi thấy một chiếc máy cày có lẽ thích nước nên chạy tuốt xuống sông để “tắm” thay vì chạy lên chiếc chẹt, còn chiếc chẹt thì đang chòng chành cách bờ vài thước tây.
Kinh Tư cũng là nơi ghi kỷ niệm với hai vị thầy có thể nói là “ chịu chơi ” khi bước vào lớp là giáo sư, sau khi tan trường là huynh đệ. Thầy Nông Thành Lợi được học trò rủ tới đây quăng chài bắt cá còn lần khác thầy Trương Phú Hộ được học trò chở tuốt vô kinh xáng tới ruộng của gia đình bạn Ngôn để giậm cù bắt chuột. Lần nào thầy trò cũng ướt nhem nhưng thử hỏi có gì vui hơn khi đem từng con cá lên bọc một lớp đất sét rồi nướng, còn chuột thì thui trong đống rơm. Thầy trò vỗ tay mà xướng đất ta- ta ngồi, rồi vỗ bầu mà hát mồi ta- ta thưởng thức. . . . Chuyện hai vị thầy tôi đã có dịp kể trong các bài viết, còn chuyện của học trò thì có lần tụi bạn kéo vô chơi, bạn Ngôn bơi xuồng qua rước, kỳ này thì đi lông nhông trong vườn xoài, vườn ổi chưa mỏi gối chồn chân thì tụi nó rụt rịt rút dù có lẽ tụi nó sợ về trễ sẽ bị la rầy còn phải đi học ngày mai nữa. Thôi về mà còn nguyên vẹn thì về, chiếc xuồng ba lá đưa bốn thằng bạn chuẩn bị cặp bờ thì bạn Ngôn lắc mạnh làm chiếc xuồng chao nghiêng về một phía, tụi bạn theo phản ứng tự nhiên nhào một lượt về bên kia, nước tràn vào xuồng như thác, xuồng chìm như tàu lặn còn người thì loi ngoi lóp ngóp lội lên bờ kêu la ỏm tỏi nhưng sau đó ai nấy đều cười nhăn răng, cười vì thấy nước sao mà từ trong chảy ra, cười vì cái kiểu đi thì khô rang về ướt nhẹp.
Những đêm trăng sáng dòng sông cũng trở nên huyền ảo nên thơ dẫu không bằng cảnh Đông Hồ hay kinh Vĩnh Tế của Hà Tiên thì nó cũng đáng để trai xóm trên tụ họp trên bến chọc ghẹo cô Út đưa đò:
Cườm tay em trắng lại tròn
Em cho ai gối nó mòn một bên
Đó là người trẻ còn người già thì cũng có chuyện để nói. Nhà tôi nhìn qua sông là thấy nhà của bác Hội, quanh năm suốt tháng nhà ít khi mở cửa chánh, người nhà cứ đi cửa hông, tôi không thấy bác đi ra ngoài hay lúc bác đi thì tôi không thấy. Nhưng có một lần thì tôi thấy bác không đi mà bác chạy trối chết từ nhà của bà Hai cách đó khoảng vài trăm thước. Bác vừa chạy vừa la cầu cứu còn người đuổi theo sau không ai khác là con trai bà Hai, anh này cầm ngọn mác của dân làm rẫy bén ngót, bác Hội người mập mạp đẫy đà càng chạy càng đuối sức về gần tới nhà rồi định quẹo vô thì lúc đó anh nọ chạy vượt lên ngang tầm đang vung cái mác lên, trong lúc thập tử nhất sinh bác vội phóng xuống sông và lội ra giữa dòng. Lúc đó bà Hai cũng vừa chạy tới, bà vừa la vừa lôi thằng con về nhà. Người ta bổng hiểu ra chuyện khi con trai bà Hai xỉ vả bác Hội :” Ông mà còn tới tư tình với má tôi nữa thì đừng trách tôi ”. Người ta bàn tán nhưng không ai biết rằng bác Hội đã thọ ơn cứu tử của con sông có dòng nước chảy xuôi trước nhà.
Sống ở miền tây đi đâu cũng có ruộng đồng sông rạch. Tôi làm sao quên được cô gái ở miệt chợ thứ ba, nhà thì ở sâu trong ruộng nhưng có đứa em trai nhỏ là học trò của tôi. Có lần tôi thấy cô đứng nép bên cửa sổ lớp nhìn vào, sau phiên chợ cô đến đây thăm em, áo bà ba nón lá, nắng gió quê hương cho em nét đẹp mặn mà. “ Mời thầy bửa nào vô nhà em cho biết ”. Thời gian sau đó tôi nhớ có đi đò qua sông, sông ở đây cũng giống sông đào quê tôi, nước đục màu phù sa, rồi đi len lõi theo bờ mẫu một đoạn nhìn màu đất mà nhớ chim tu hú đất gọi ngày xưa. Nhà em dễ tìm vì có cái ao con trước nhà, chị của đứa học trò giật mình nhìn tôi thẹn thùng ái ngại tưởng thầy không tới ai dè. . . . rồi không biết nói gì nữa. Không nói mà thật ra đã nói rất nhiều, tôi thật sự không nhớ sau giây phút đó rồi sự việc nó diễn biến thế nào? Ngày tôi rời thị trấn trong ba lô có lá thơ của người ở lại, mong có ngày được gặp lại thầy, chỉ cần nhìn thấy nhau thôi. Sông nước vùng miệt thứ bịn rịn đưa tôi về Rạch Sỏi. Bước giang hồ kết thúc lúc tôi nhảy lên chiếc xe đò trở về mái nhà xưa. Con đường liên tỉnh chạy song song với con sông đào, đất và nước hợp lại là cuộc đời của tôi. Đêm nằm trên cái nhà sàn ven sông nghe tiếng nước thì thầm như lời ru thuở nhỏ./.
Trầm Vũ Phương
1 tháng 10 năm 2026
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét