Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

Ví Dầu Tình Bậu Muốn Qua

 Trầm Vũ Phương 

Có một dạo tôi được một đàn anh trong xóm nhận làm đệ tử, đi đâucũng được đàn anh dắt theo kể cả đi cua đào. Trong đầu cứ tưởng anh đang để ý một đóa trà mi nào ai dè anh chịu cô Út đưa đò. Nói nào ngay khi bạn tưởng tượng một cô gái mười bảy, tóc chấm ngang vai, gương mặt trái xoan, đôi má lúc nào cũng hồng hồng, nụ cười gợi cảm, người cao trung bình gọn gàng trong bộ bà ba vải tám, đầu đội chiếc nón lá miền sông nước Hậu giang thì đó là hình ảnh cô Út. Ban đầu cô Út giúp việc trong nhà với người chị, nhà có chiếc xuồng năm lá chớ không phải ba lá, cổ thấy khách muốn qua sông mà sao không có ai rước nên cổ chèo xuồng đưa qua giùm cũng là việc nghĩa vậy thôi. Rồi ngày qua tháng lại người bên này muốn qua bên kia, người bên kia có chuyện phải sang bên này đều đến nhờ cô Út. Chính quyền xã làm một cái bến cho người dân tiện đi lên đi xuống, kế đó là cho đấu thầu cái bến đò, không biết vị nào trúng thầu mới nhờ cô Út làm luôn cái công việc đưa khách sang ngang.

Nhà tôi chỉ cách bến chợ có vài nóc gia nên ngày nào cũng thấy đò ngang, đò sáng thì đông, người khách sau chót phải phụ đẩy chiếc đò cho có trớn để người lái đò đưa xuồng ra giữa dòng được dễ dàng và mau chóng sang bờ bên kia. Cái điệp khúc tiếng nước đẩy xuồng, tiếng mái dầm cọ vào be ghe, tiếng lịch kịch sửa soạn lên bờ trở thành một phần đời của cô Út. Mãi cho tới khi xãy ra chuyện có tiếng gọi đò, khi đò tới nơi thì người đi không chịu xuống mà bắt cô Út suy nghĩ đủ thứ chuyện. Buổi trưa thưa vắng khách qua sông, đàn anh với tôi canh me lúc đò vừa cặp bến, đợi cô Út ngẫng nhìn lên chổ mọi khi đàn anh hay đứng chờ thì không thấy anh chỉ thấy tôi, cô Út hỏi anh đâu? Khi nghe tiếng đó anh mới thò đầu sau gốc dừa ra nhoẻn miệng cười tình và đưa lời chọc ghẹo:

“ Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn
Bóng cây anh ngỡ bóng thuyền em qua”

Trời buổi trưa nắng gắt, một dọc xà lan chở xi măng Hà Tiên ngược dòng phù sa về mạn bắc tạo nên lớp sóng tạt qua hai bên bờ sông làm cho chiếc đò nhỏ cũng chòng chành, chao đảo. Cô Út đưa mái dầm kềm chiếc xuồng áp sát vào bờ. Cô nhìn qua tôi rồi nói lớn: “ Cưng có qua sông không? Chị dìa đó nghe!”.  Đoàn xà lan đi xa xa rồi, mặt nước sông trở lại bình yên, mùa này lục bình ở đâu kéo về nhiều vô số, có những dề lục bình trổ bông tím lợt, màu này phản chiếu xuống mặt sông biến thành màu tím thẩm. Bên kia sông hình như có khách, cô Út bắt đầu đưa mũi xuồng hướng ra sông. Ít có khi nào chiếc đò từ bên đây trở về bên kia mà không có người đi. Đàn anh ngóng theo giơ tay lên chỉ vào cái đồng hồ. Đêm nay có gánh hát chắc thế nào cô Út cũng sang. 

Thằng bạn tôi cưới vợ cùng xóm, cưới hồi nào tôi không hay tới khi hay thì nó đã cất chòi ở trên ruộng rồi. Một hôm vợ chồng nó kéo tôi đi thăm cái chòi với mấy công đất gọi là đất hương quả. Nó biếu tôi xắn quần lên đi với nó thăm câu, miếng đất ruộng lấp xấp nước, câu cắm một hàng dọc theo bờ mẫu, nó xách theo cái đèn bão, ánh sáng mờ mờ phản chiếu mặt nước ruộng lung linh, chân bước đi sau nó mà lòng tôi hơi ớn vì sợ đĩa đeo. Ở xóm tôi có nhiều cô cậu hồi nhỏ chơi đùa với nhau lớn lên lại thề non hẹn biển rồi góp gạo nấu chung. Trai quê lấy gái ruộng, anh đi giăng câu ở xóm trên phải lòng em thợ cấy ở xóm dưới, đám cưới quê cũng rậm đám, hai họ mừng vui xóm làng rộn rịp. Chuyện bên Nhật có nói đến người vợ của Đô đốc Yamamoto đâu phải là trang quốc sắc thiên hương mà là một cô gái thật thà, cục mịch cùng quê. Đô đốc chọn cái chiêu “ăn chắc mặc bền”. Cho nên vào khoảng thập niên 40, 50 trên cánh đồng xanh quê mình đã rộn lên câu hò, điệu hát hết sức tình tứ như câu hò dưới đây.

 Bên nữ hò trước rằng:

Hò. . . ơi! Lỡ chân em té xuống bùn,
Thân em lem lấm ờ. . . . Hò ơi! Thân em lem lấm, anh hôn chổ nào?

 Đại diện bên nam hò đáp lại:

Hò. . . . ơi! Cô ơi đừng nói thấp cao,
Thân cô lem lấm ờ. . . . Hò ơi! Thân cô lem lấm, chổ nào tôi cũng muốn hôn!

 Cái cảnh trên bến dưới thuyền ở bến chợ là bình thường, từ thôn trên xóm dưới bên kia sông đều tụ về mỗi sáng buôn bán cho đến tan chợ nhưng rồi chẳng bao lâu sau đó có chiếc ghe từ miệt Long xuyên vô bán các loại tủ như tủ thờ, tủ búp phê, bàn ghế. . . Lâu ngày chầy tháng, quen nước quen cái, dân tình hiền hòa nên dây neo quên không kéo lên nữa. Đất lành chim đậu, người chủ ghe lên bờ kiếm chuyện làm ăn vì điều kiện sinh sống quá dễ dàng. Bầu đoàn thê tử cắm dùi trên ghe, cô con gái lớn mỗi ngày vo gạo nấu cơm, chui ra chui vào, ngẫm nghĩ buồn cho cuộc đời trôi giạt. Sống trên ghe đâu ngờ có ngày được một mái nhà che mưa che nắng, có chàng thanh niên trong xóm để ý thế là cô có chồng, tạ ơn trời phật xót thương chớ không thôi cũng phải chịu cảnh xa nhà nhớ cha nhớ mẹ:

Má ơi! Đừng gã con xa
Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?

 Chuyện dưới ghe cũng là duyên nợ chuyện trên bờ cũng nợ với duyên. Có đoàn cán bộ xây dựng nông thôn đến công tác, ấp tôi là ấp tân sinh hay còn gọi là ấp đời mới, đã mới thì phải có đủ thứ nào là xây trường học, nhà hộ sinh, cầu đường, cống rãnh, rồi văn nghệ, văn gừng. . . Thời gian công tác của một đoàn như vậy kéo dài cả tháng mà còn tùy nơi, tùy tình hình an ninh cho phép. Vậy mà lúc đoàn rời đi thì có chị T. tình nguyện đi theo. Chị theo anh D cán bộ của đoàn, cho nên ai bảo tình yêu nhẹ hơn tình nước đâu! Về sau này anh D trở về ấp đời mới sống vui vẻ với ruộng lúa nương khoai.

Trường hợp của chị T. là đi theo còn trường hợp anh S. là chém vè ở lại. Anh là kép hát khi gánh hát lưu diễn đến đây, không biết ẩn tình thế nào mà anh không theo đoàn nữa, trong xóm có chú năm thợ may là người hâm mộ cải lương nên kết anh S. liền, mỗi sáng chú năm với kép hát ghé quán uống cà phê, sau đó mới đi dạo xóm. Kép cải lương đi đến đâu người ta tò mò đến đó, chắc trong gánh hát anh chỉ đóng vai phụ vì tướng tá không cao, giọng khàn chớ không mạnh. Trong quá trình làm quen anh chìu hết mọi người, ai muốn anh ca thì anh ca, ai muốn anh diễn thì anh diễn. Còn phần chú năm thì chú chỉ nói rất mến mộ kép cải lương nên chú sẳn sàng cưu mang anh S. đâu có gì mà lo không nổi!. Mũ mão, trang phục, gươm kiếm rời xa rồi, bây giờ anh S. mặc cái áo thung ba lỗ mang đôi dép lẹp xẹp ngồi chéo nguẩy trên chiếc ghế đẩu trong tiệm cà phê lấy giọng để ca một bài theo yêu cầu của những người ghiền cải lương:

“ Mỵ Châu ơi! Có anh là Trọng Thủy đi tìm em khắp Cổ. . . Loa. . . . Thành. Em đi về đâu hởi người bạn chung tình? “ . . . . . Theo lệnh cha nõ thần kia đánh tráo, anh đâu ngờ có một ngày khói lửa phủ kinh đô. Anh băng ngàn vượt suối trèo non, quân thám mã báo tin em cùng phụ vương bôn tẩu. Vì yêu anh mà em để dấu, lông ngỗng chỉ đường mong gặp lại người thương đã cùng em bao năm dày duyên hương lửa. ơ. . ơ. . . . .”


Trầm Vũ Phương
20 tháng 12 năm 2025

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét