Anh ơi! Đừng hẹn sợ đường đắp mô
Đầu xóm trên có đồn Cầu Mống, đầu xóm dưới có đồn Kinh Tư, chính giữa không có đồn nào chỉ có ruộng trống không, có một vài nhà dân lẽ tẽ, có một cái trường làng loang lổ vết đạn bom. Thời đó làm gì có drone để nhìn từ trên cao, nếu có sẽ thấy chỗ này là huyết lộ của bộ đội “ giải phóng “. Công trường 9, trung đoàn Tây Đô từ Cần Thơ di chuyển ngang qua đây để về Đầm Dơi tỉnh Cà Mau, rồi thêm hai tiểu đoàn chủ lực Miền 207 và 519 từ U Minh cũng băng đồng vượt ruộng tăng viện cho mặt trận Vị Thanh, Chương Thiện. Họ đi vào đêm tối, đi hàng một, ngụy trang lá cây um tùm. Cố vấn Liên Xô dạy khi có máy bay thám thính thì tất cả ngồi xuống tại chỗ, người này sát với người kia, cả một binh đoàn sẽ biến thành một cái bờ mẫu bên cạnh những ô ruộng nhỏ, dưới ánh sáng hỏa châu lung linh mờ ảo, phi công nhìn qua ống dòm không thấy gì khả nghi bên dưới nên rời vùng. Nói thì nói vậy chớ mười lần có đụng tới tám lần, lính trinh sát tỉnh đã dẫm chân lên vùng này đến mòn gót giày sô.
Những buổi chiều đi học về ngang cây số 15 , chỉ trong vòng một cây số thôi mấy hành khách đi chung xe không còn nói chuyện xì xào mà đưa mắt nhìn ra hai bên đường như để tìm bóng dáng người lính trận rời khỏi lòng quân xa, khệ nệ khiêng đạn pháo đặt bên lề đường, tiếng cuốc xẻng chạm đá tóe lửa trước khi thành những hố cá nhân. Rồi có những ngày tôi thấy xe bọc thép đậu hàng ngang, có gắn tấm lưới cản B40 ở trước mũi. Có những đêm cả làng trên xóm dưới đều thức giấc vì tiếng súng cối 81 ly, lửa đạn từ hai đồn đi ngang tẻ dọc, có khi trực thăng vỏ trang vào vùng rãi đạn như người dân giê lúa. Người dân Hòa Ninh bám đất không chạy về Hòa Phước hay Hòa An. Tôi cầu mong chỉ thêm hai cây số nữa thôi là em xa vùng lửa đạn, chỉ vượt hai ngàn thước tây nữa thôi là anh thấy lại chiếc áo bà ba.
Hồi đó tuy là trong khói lửa chiến tranh nhưng gặp được người Hòa Ninh thì toàn là người tốt bụng. Em vợ tôi kể nó ở Rạch Sỏi đi chơi với tụi bạn ở vùng Cái Sắn Tân Hiệp chọc ghẹo mấy cô gái Bắc kỳ, đến khi về đến cây số 15 thì bị kẹt, lính không cho qua 6 chiều là kéo chì gai ngang lộ. Đứng lóng ngóng một hồi không biết tối nay ăn ngủ ở đâu thì gặp một anh thổ địa đến dắt về nhà, cái nhà lá nhỏ xíu dưới mé sông là gia đình anh Cọp. Anh tên Cọp nhưng hiền từ nhân hậu, hiếu khách không ai bằng. Anh biết thằng em đói bụng nên mời khách dùng cơm đạm bạc với gia đình, nó đói thiệt mà nuốt không trôi, nhớ mãi suốt đời nồi canh khổ qua hầm thịt. Gia đình anh xơ xác trong vùng giao tranh lâu lâu có được nồi canh khổ qua hầm mà nhè có thằng em bơ vơ tội nghiệp nên có gì ăn đó. Xong rồi còn dọn chiếu mùng cho nó ngủ. Đêm đó không có tiếng súng, không có hỏa châu mà chỉ có tình người trong cơn hoạn nạn. Thằng em nhớ hoài đêm đó, sao người dưng mà thương mình như ruột thịt, sao ở vùng mất an ninh mà đối đãi mình như người nhà. Nó cố tìm tin tức anh Cọp, nó mang ơn anh nên ở Mỹ mà nó cứ trăn trở, cứ nhớ về cây số 15, muốn gởi chút quà cho anh nhưng không làm được.
“Rồi có một ngày, có một ngày chinh chiến tàn”. Cái ngày đó là tháng tư năm 75. Lúc đó tôi nghỉ học rồi nên không còn thấy cái mô nào ở đó nữa. Người con gái năm xưa chắc đã có chồng, nghe nói em về quê ngoại ở Bàng Tân Định. Tuy vậy tôi vẫn đạp xe đạp ngang qua nơi đó chỉ để nhớ chút chút vậy thôi. Ngày xưa tôi hay tò mò nhìn đoạn từ lộ xe đi vô trong ruộng coi cỏ có bị rạp xuống không, dấu chân người đi về hướng nào, dấu đạn bom tạo nên hầm hố, làm đám cỏ cháy rụi đen thui, vài mảnh vải rách nát vương vãi, vài băng cứu thương cá nhân vứt vội bên bờ mẫu. Còn bây giờ thì hòa bình mà nó không giống như lời trong bài ca:” Ta lại gặp ta, mở rộng vòng tay thương mến bao la” mà ngược lại nó buồn, buồn nhớ chú Ba Du. Có một thời chú làm trưởng đồn dân vệ, tôi nhớ chú mặc bộ quân phục màu xanh ô liu, mang khẩu Colt.45, chú không đội nón sắt mà đội nón rộng vành. Về sau chú làm bên an ninh xã, mặc đồ dân sự, cưỡi xe honda ghé chổ này chổ nọ, đi họp tới lui thăm hết các ấp của xã nhà.
Trưởng ấp Hòa Lợi là ông Hai Báo, ông để tóc dài và búi ở sau ót. Ấp Hòa Lợi ở mép bên kia sông có dân số ít hơn bên Hòa An. Không có đường lộ xe chỉ có hương lộ thôi, ông được cấp cho khẩu súng ru lô, súng thôi không có vỏ nên ông dùng chiếc vớ để nó vào trong rồi lận lưng đi rảo xóm. Nhà ông có treo cái võng ở ngoài hàng ba, rồi một ngày có ông bạn vong niên đến chơi, ông bạn ngồi đu đưa trên chiếc võng để đợi bạn hiền đi mua rượu đế đem về chén tạc chén thù, hai người có chổ giống nhau là trên đầu đều có búi tóc nên tên du kích lãnh nhiệm vụ ám sát trưởng ấp Hai Báo bắn vào ông bạn vong niên mà cứ ngỡ phen này mi phải “đền tội” với nhân dân. Mấy người hàng xóm thấy tên du kích chạy ngời ngời trổ ra bờ ruộng, họ nhận diện là Tư Kèo. Tư Kèo là con bà Hai Thiên ở ấp Hòa Thuận. Nó có tên trong sổ gia đình nhưng nó không có ở chung với bả ngày nào.
Một buổi tối chú Ba Du với mấy anh lính nghĩa quân chận bắt một chiếc xuồng câu ở đầu Kinh Sáu. Phía dưới đống cần câu cắm là một cái loa tay, một khẩu súng trường bá đỏ và một trái lựu đạn nội hóa. Thế là Tư Kèo hết chối, chú Ba Du chuyển hắn về Quận, sau đó tống giam vào Trung Tâm Cải Huấn Tỉnh Kiên Giang ( Khám Lớn). Tư Kèo thù chú Ba Du từ đó. Chỉ một tuần sau ngày 30 tháng 4, người ta thấy Tư Kèo ngồi trên chiếc xe jeep từ thị xã chạy về ấp Hòa An, xe dừng lại trước một tiệm cà phê. Không hiểu sao Tư Kèo biết có chú Ba Du trong đó, có lẽ ghé nhà người nhà nói ra tiệm cà phê mà kiếm, Tư Kèo xuống xe đi vô chỉ khoảng năm phút sau trở ra vừa đi vừa nói chuyện vui vẻ với chú Ba Du đi theo phía sau. Xe jeep quay đầu lại và chở hai người về hướng thị xã. Tới cây số 15 xe dừng lại ven đường, vừa mới khi nãy còn cười nói huyên thuyên bây giờ mặt Tư Kèo đằng đằng sát khí, chú Ba Du bị lôi xuống xe, sau đó bị Tư Kèo và tên tài xế trói chặt hai khuỷu tay ra đằng sau lưng. Chúng vừa đi vừa đẩy chú về phía trước, đi được khoảng năm mươi thước về phía ruộng. Tư Kèo lạnh lùng lắp băng đạn vào khẩu AK47. Ba giờ chiều nơi cánh đồng vắng, ấp Hòa Ninh không thấy bóng người tốt bụng, cây số 15 không còn cảnh đắp mô nhưng có loạt súng AK bắn từ sau bắn tới, chú Ba Du ngã sấp xuống nền đất ruộng nơi đã từng là chiến địa mà mùi đạn pháo như còn quanh quẩn đâu đây. Mãi tới mấy tiếng đồng hồ sau người ta mới phát giác ra sự việc, nhiều người chạy lại coi, nhận diện rồi chạy đi báo cho gia đình. Việc trả thù như vậy góp phần làm cho người dân không tin vào những gì mà chính quyền cách mạng nói./.
Trầm Vũ Phương
Đầu tháng 6 năm 2026
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét