Khi vào làm trong xưởng đóng tàu Avondale, tôi được xếp vào toán thợ điện. Ngay hôm đầu tiên tôi đi vòng vòng xem có gặp đồng hương làm ở đây không? Sau này tôi mới biết có rất đông và làm đủ nghề. Giờ ăn trưa thấy ở một góc con tàu có một nhóm thợ người Việt, hỏi ra mới biết mấy anh em này là công nhân hợp đồng. Họ ngồi đàng hoàng quanh một mâm cơm. Tôi hơi ngạc nhiên vì nhìn quanh ai cũng gặm sandwich chớ đâu có cái màn dọn cơm. Thấy anh em dùng cơm trưa như trong một gia đình làm tôi thấy tự nhiên hơn khi đến làm quen. Mình từ bên Cali làm trong hãng điện tử qua đây thấy mấy anh em làm nghề lắp ráp ( joiner ) coi bộ vất vả, nặng nhọc vô cùng. Rồi còn có thợ hàn, thợ ống nước, thợ sơn, thổi cát, thợ mộc, thợ thiếc, thợ dán lớp cách nhiệt. . . . Muốn biết ai làm công việc gì cứ nhìn màu nón bảo hộ lao động là biết ngay. Một hôm tôi thấy anh Đang làm bên joiner đang đọc báo, đó là tờ báo thông tin thương mại ở địa phương thì có anh bạn khác đến nói chuyện, tôi nghe anh Đang nhẹ nhàng giải thích cho anh bạn đó đại khái là những người viết bài đăng báo đâu phải họ viết cho có mà họ phải bỏ thời giờ suy nghĩ rồi lựa cách hành văn, dùng chữ để hoàn thành một bài đăng báo cho nên mình phải trân quý nó. Thời gian sau tôi gặp một Kitô hữu là một người có bút hiệu Vũ Như Sơn, anh làm bên thợ sơn. Anh là chủ nhiệm một tờ bán nguyệt san phát hành tại địa phương. Tiếng là chủ nhiệm chớ tờ báo anh lo toan hết từ việc đi lấy quảng cáo các cơ sở thương mại, viết tin, sưu tầm bài vở, layout, đem báo đi in xong rồi đem đi để ở các cửa tiệm coi như anh làm từ A đến Z. Vậy mà anh vừa cười vừa nói là chỉ làm từ C đến D mà thôi. Khi hiểu ra mới biết là anh chỉ chuyên môn cắt bài vở hay mẫu tin từ báo khác rồi dán lên tờ báo của mình. Thế thôi! Sau khi quen anh rồi khi cần đăng thông báo này nọ là anh sẵn sàng. Nhà anh có song sắt bên ngoài, tôi cứ việc quăng thông báo vào bên trong, anh ra nhặt vào là xong. Nguyên quán ở tận ngoài Ninh Bình nên anh lấy thêm một bút hiệu khác là Vũ Ninh Bình, làm báo chắc chưa thỏa mộng văn chương nên anh nhào vô trường văn trận bút, khi viết được nhiều truyện ngắn anh tập hợp lại in thành sách, năm nào New Orleans cũng có giông bão, cái lúc bão sắp đổ bộ là những khoảnh khắc dễ làm tinh thần mọi người căng thẳng. Anh viết ngay truyện Bão Không Tới. Người đọc thấy hình ảnh đôi tình nhân trong truyện trải qua từng cơn sóng gió cuộc đời cho đến khi cơn bão thật ngoài đời sắp đổ ập đến nơi thì lạ thay nó chuyển hướng. Đó là bão Iren nó quẹo đi về nơi khác.
Cầm cọ sơn tàu miết rồi cũng oãi, anh lập ra Nhóm Sinh Hoạt Văn Hóa, ra mắt sách của các văn hữu địa phương và mời các văn, thi sĩ nổi tiếng ở xa đến nói chuyện. Chính những buổi sinh hoạt như thế là cái chất xúc tác cho việc thành lập Trung Tâm Văn Bút Louisiana sau này. Anh lại có thêm bút hiệu mới là Hoàng Hạc Lâu. Theo bài viết của tác giả Trần Nguyên Thắng thì ngày xưa lầu Hoàng Hạc đẹp như thế nào thì ngày nay khó có ai có thể hình dung được, nhưng Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu thì quả là một hình ảnh thật đẹp. Đẹp đến nỗi dù đã trải qua hơn 1250 năm rồi mà Hoàng Hạc Lâu vẫn là một hình ảnh thần tiên, dịu ngọt kèm theo một nỗi buồn man mác trong lòng những người đọc thơ Thôi Hiệu, nhất là đọc qua bài dịch tuyệt vời của nhà thơ núi Tản sông Đà Nguyễn Khắc Hiếu:
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh, cỏ bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
Trở lại với những sinh hoạt văn hóa, người tham dự thường phải chờ rất lâu chương trình mới bắt đầu, có người kéo anh ra một góc rồi nói rằng ông nhà báo ơi! Tại ông lấy bút hiệu là Hoàng Hạc Lâu nên bọn tui chờ dài cổ ra, thôi đề nghị như vầy ông bỏ chữ Lâu đi thêm vào chữ Mau Lên cho được việc. Thế là anh nghe lời bỏ đi chữ Lâu chỉ còn là Hoàng Hạc, tưởng đâu được yên thân ai dè thời gian sau lại cũng bị mấy vị trong Hội H.O chống đối um sùm vì có sự xuất hiện của nhạc sĩ Vũ Thành An theo lời mời của anh.
Trong những buổi sinh hoạt như vậy, có một người thường chọn chổ ngồi nơi hàng ghế cuối và không muốn ai chú ý cũng như giới thiệu sự hiện diện của mình. Đó là thi sĩ Trần Bát Nhã. Tuy nhiên thuở ban đầu anh làm thơ đăng báo dưới bút hiệu Huệ Minh. Nghe tên Huệ Minh chắc ai cũng liên tưởng đến một người theo đạo Phật. Điều này không sai, chẳng những là một phật tử tại gia mà anh còn có riêng một cái am có tên là Thanh Tịnh Am được thiết lập cạnh bên nhà. Trong một quyển sách được anh ký tặng có đoạn nói về Trung Tâm Văn Bút Louisiana như sau: “ Năm 1995 một nhóm anh em yêu công việc báo chí, thích viết văn thơ, cùng tôi hội họp. Do nhu cầu muốn phát triển văn học hải ngoại, riêng tại tiểu bang Louisiana chúng tôi quyết định thành lập Trung Tâm Văn Bút Louisiana gồm mười bốn người. Tôi được anh em yêu mến, tin tưởng bầu làm chủ tịch. Tất cả mười bốn người chúng tôi không có ai là nhà văn nhà thơ chuyên nghiệp chỉ là dân mê thích, yêu chữ nghĩa văn chương nhưng với nhiệt tâm, chúng tôi đã gây được phong trào thơ văn sôi nổi tại địa phương. Anh em chúng tôi cố gắng thường xuyên tổ chức những buổi ra mắt sách của các văn thi sĩ chuyên nghiệp từ trước 75. Đồng thời cũng được các bậc tiền bối, đàn anh hướng dẫn, giúp đỡ, ủng hộ mọi sinh hoạt của Trung Tâm. Đang ăn nên làm ra thì xảy ra cuộc khủng hoảng Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Trung Ương), do sự tranh chấp và bầu bán chiếc ghế chủ tịch Trung Tâm. Cuộc khủng hoảng kéo dài hơn một năm vẫn chưa được giải quyết vì vậy các trung tâm địa phương phải ngưng hoạt động.” Nhớ có một lần Trung Tâm Văn Bút Louisiana tổ chức mời thi sĩ Du Tử Lê về, đông đảo người hâm mộ tham dự nhưng lạ một điều là khi người điều khiển chương trình giới thiệu thi sĩ lên bục nói chuyện thì bầu không khí trở nên trầm lắng một cách khó hiểu thay vì là những tràng pháo tay đón chào nồng nhiệt. Và câu đầu tiên thi sĩ Du Tử Lê nói là cám ơn sự yên lặng của tất cả quý vị.
Thi sĩ Cao Đông Khánh cũng là một người gây ngạc nhiên cho đám đông. Chắc không phải thi sĩ muốn dùng rượu để giải sầu như câu thơ Hán Việt: Giục phá sầu thành tu dụng tửu, mà vì trước khi đến buổi sinh hoạt các bạn nhậu đã bắt thi sĩ nâng ly nhiều lần nên quá chén. Thi sĩ chân thấp chân cao bước lên bục với gương mặt đỏ gay, giọng nói lè nhè. Người ta không biết diễn giả nói gì chỉ nghe nhiều lần ông nhắc đến thi sĩ Bùi Giáng. Thi sĩ Bùi Giáng có khi say, có khi điên loạn mà có những bài thơ làm cho người ta suy nghiệm còn thi sĩ Cao Đông Khánh có lần tại miền nam Cali phát biểu cảm tưởng về những người dứt áo ra đi xã thân cứu nước là những kẻ ( khi nghe chữ “ kẻ”, tôi hơi hoảng không biết sao ông lại dùng chữ nặng nề như thế ! ) ông mới nói tiếp đi tô son thếp vàng lên lịch sử dân tộc. Lạy Chúa tôi! . . . Hết hồn hết vía.
Ngoài những buổi ra mắt sách tại địa phương, tôi nhận được sách tặng từ các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo như: Trần Bát Nhã, Quan Dương, Anh Thái Phượng, Hoàng Phùng Miên, Vũ Như Sơn, Chú Tiểu Lan, Vương Kỳ Sơn, . . Các văn thi sĩ ở xa như: Trần Khải Thanh Thủy, Hoàng Chí Kiên, Hương Giang, luật sư Nguyễn Hữu Thống, Nhã Ca, Võ Đại Tôn, Thiện ý, Nguyễn Bá Cẩn, Nguyễn Hữu Lễ, Nguyễn Hữu Nhật, Nguyễn Chí Thiện, Tô Thùy Yên, nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân, Mục sư Đặng Minh Lành . . . Cùng vài vị thân hữu đặc biệt không thuộc giới viết lách. Thí dụ như kỹ sư công chánh Bùi Đức Hợp tặng tôi quyển sách có tính cách chuyên môn là cuốn STREET DESIGN & CONSTRUCTION FEATURE IN THE CITY OF NEW ORLEANS, ông Trầm Vi Đức tặng quyển THE THREE CENTURIES OF TRAMS, theo tôi nghĩ ông cùng họ với tôi, một giòng họ hiếm thấy, ông sưu tầm về nguồn gốc và gặp một người cùng họ Trầm trên đất tạm dung là một điều vô cùng thú vị.
Trầm Vũ Phương
25 tháng 3 năm 2026

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét