Dạo đó nhìn bộ dạng của anh giống lính hơn là thầy giáo vì anh có nước da ngâm ngâm, dáng vẻ phong trần, kiểu cách này phù hợp với dân ở vùng kinh tế mới. Nhà anh ở ngoài thị xã, anh lại dạy học ở trường tiểu học Mong Thọ. Cho nên lúc anh đứng đón xe đò về cũng là khi bạn bè xáp vô tán dốc ba điều bốn chuyện, nhiều nhất là chuyện dài xã hội chủ nghĩa.
Sau đó mỗi lần đi ra thị xã lại có màn đi uống cà phê cà pháo, anh rũ tôi về nhà chơi, bà mẹ thấy bạn con mình đến, nét suy tư vì cuộc sống khó khăn có vẻ vơi đi đôi chút, có lẽ bà lo cho anh Hoàng hơn mọi chuyện khác. Cái kiểu làm thầy giáo ở tuốt trong Mong Thọ không khá, không đủ tiền đi xe nói chi có đủ tiền ăn. Sống trong cái xã hội điên đảo đó ai cũng nghĩ đến một lối thoát, chọn lối thoát này đòi hỏi sự can đảm trước khi thần may mắn có dịp song hành. Thời điểm đó là thời điểm của phong trào vượt biển lên cao, cứ vài hôm là nghe tin mấy đứa bạn vượt biên, cứ mỗi lần gặp Tăng văn Tường ở Rạch Sỏi là anh ta cứ lôi tôi ra mà hỏi ai đã đi, ai còn lại. Hỏi để làm gì? Hay là báo cáo với Đoàn Thanh Niên Cộng Sản HCM?
Cho đến một ngày, con đường thoát đó đến với tôi và anh Hoàng. Người mang tia hy vọng đó là chị Mai, tôi không thể tưởng tượng được là cơ hội vượt biên đến với mình thật sát nút. Tôi không hiểu vì lý do gì mà chị thay vì chỉ cho anh Hoàng biết thôi đàng này có cả tôi. Một người đi chưa chắc đã suông sẽ nói chi tới hai. Tôi nghĩ tới sự quen biết lâu năm giữa chị và tôi, giữa ba chị với ba tôi vì có thời hai người cùng làm việc chung trong Hội Đồng Xã.
Thật gấp rút, đêm đó khoảng 8 giờ là xuống bãi, chị Mai căn dặn chúng tôi rõ ràng từng chi tiết trước giờ khởi hành một tiếng còn chị ở lại bộ chỉ huy trên đại lộ Nguyễn Trung Trực. Anh Hoàng và tôi mỗi người sọt vô hai bộ đồ trên người không đem cái gì khác nữa, cứ đi bộ như đi dạo, phải bám sát nhóm người phía trước đừng để mất dấu. Thị xã về đêm ồn ào xe cộ lưu thông trên các con đường chính còn trong các con hẽm là thế giới khác, con đường hẽm dẩn xuống bãi trời tối như đêm ba mươi, tôi có cảm tưởng nó biến thành con đường một chiều chỉ có người đi xuống chớ không có người đi lên, ai mà lọt vô đây rồi thì không ai thấy, biến mất. Mò mẫm trong bóng đêm tôi với anh Hoàng dù cẩn thận cũng bị vấp bởi có nhiều lỗ trũng, vừa đi vừa nhướng cặp mắt về phía trước cố đâm thủng màn đêm để theo không thôi mất dấu sẽ bị bỏ lại.
Điều này hoàn toàn ngược với chuyến đi của tôi sau này, đoàn người đi vào lúc sáng sớm, sáng tỏ mặt người, đi hàng một xuống bãi, ghe nhỏ đưa ra ngoài khơi chổ tàu lớn đậu chờ, Hòn Tre hiện ra rất gần, đó là hình ảnh quê hương tôi được nhìn lần cuối cùng, chiếc ghe nhỏ quay trở lại vào bờ, ai cũng móc túi có bao nhiêu tiền đều quăng trở xuống ghe, người lái ghe chúc mọi người đi may mắn.
Khoảng năm 1985 hay 1986 gì đó không nhớ rõ, tôi một mình lái xe từ San Jose xuống San Diego họp bạn, khi về tôi giở bản đồ ra tìm đường ghé thăm anh chị ở Van Nuys, chạy vào thành phố rồi tôi không biết làm sao đến được nhà lúc ấy là giờ tan sở nên đường xá đầy xe, tôi chỉ còn nước là gọi chị Mai. Chị bảo Phương cứ tiếp tục chạy trên đường Shermans way thì sẽ tìm được. Đến nơi gặp chị lúc đó anh Hoàng đi làm chưa về, vì chổ làm cũng gần nên thay vì lái xe anh xử dụng xe đạp. Biết đàn ông gặp nhau là phải có bia bọt nên chị để cho hai người nói chuyện. Trong câu chuyện của những người tỵ nạn gặp nhau trên đất khách làm sao mà không nhắc đến những người bạn còn ở lại, anh Hoàng mong muốn liên lạc với bạn Khuê. Bạn Khuê học ở trung học Thanh Bình, tôi với Khuê hay đi chơi chung, nhiều lần Khuê rũ tôi đến nhà chị Mai, nhớ lại cái thuở “ làm học trò mà không sách cầm tay, có tâm sự đi nói cùng cây cỏ” cũng vui vui.
Rồi cách đây cũng khoảng hơn chục năm, tôi với bà xã bay qua Cali dự một buổi hội ngộ của dân Kiên Thành ở khu Little Saigon may mắn gặp lại hai anh chị cùng hai cháu. Rất tiếc lần đó không tiện nói chuyện nhiều, tiếc thêm một cái nữa là không có chụp tấm ảnh nào làm kỷ niệm. Bạn Khuê không còn được nhắc đến có lẽ nó thuộc về quá khứ thay vào đó là chuyện hiện tại, chuyện người bên này đại dương vẫn vật vã áo cơm, vẫn còn chia năm xẽ bảy món quà gởi người ở lại.
Bạn Tâm tôi cũng mới gặp lại, thời gian như bóng câu qua cửa sổ, cho nên có dịp gặp nhau hay liên lạc được nhau là điều hết sức trân quý. Cái đêm đó tôi với anh Hoàng không hiểu tại vì sao mà bị mất dấu, mấy người đi phía trước chắc có học khóa cắt đuôi của ngành tình báo. Ở bộ chỉ huy chắc chi Mai đinh ninh rằng hai người tìm được bãi và xuống được tàu. Kỷ niệm đó tôi vẫn còn nhớ, viết ra đây để tưởng nhớ anh, để chia buồn với chị Mai và chúng ta vừa bước vào tháng tư, đánh dấu một thời quê hương tang tóc./.
Trầm Vũ Phương21 tháng 4 năm 2026
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét