Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ nhớ trần gian này mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu
(Phụng Hiến, thơ Bùi Giáng)
1/-
Ngày 01/12/ 2025
| Họp mặt gia đình |
Nếu có yêu tôi thì hãy yêu bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời
Đừng đợi ngày mai có khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao mà biết mĩm cười
(Thơ Ngô Tịnh Yên, nhạc Trần Duy Đức)
Lần này gặp may. Từ lúc phi cơ hạ cánh đến khâu qua cửa hải quan Tân Sơn Nhất kiểm passeport, nhận hành lý ký gởi chỉ mất chưa đầy 30 phút -so với có lần mất 3 tiếng-. Em trai và bốn cháu trai gái đến đón. Em trai từ xứ lá phong Gia Nã Đại về trước tôi ba tuần, còn ở VN một ngày, mốt cậu quay trở lại Vancouver.
Một cháu gái ở Toronto vài hôm nữa cũng về thăm. Năm nay tụ họp đầy đủ, vui quá.
Gần phân nửa các con của chị em tôi làm việc và lập gia đình ở Saigon. Buổi tối chúng tôi hẹn gặp tại địa điểm quen thuộc mỗi khi tôi ghé lại thành phố–Làng Nướng Nam Bộ–. Nhà hàng nầy có không gian rộng, phục vụ tương đối nhanh nhẹn, thức ăn vừa khẩu vị, giá cả hợp lý. Lại không cách quá xa nhà các cháu. Nghĩ đến tình trạng kẹt xe ở Sài Gòn mà thấy ngán ngẩm. Nơi nầy không có gì níu kéo vấn vương tôi được nữa.
Tôi náo nức chờ đợi buổi tụ họp gia đình (và vài người bạn thân) đêm đầu tiên đặt chân xuống đất Việt. Hạnh phúc được nhìn các gương mặt thân yêu tươi vui trong bầu không khí đầm ấm. Cộng thêm thưởng thức mấy món ăn ưa thích bù đắp hai ngày ngồi bó chân trên các hàng ghế phi cơ chật chội, thức ăn dở tệ, tôi chỉ ăn qua loa bánh mì, salad, yaourt.
Thêm một niềm vui: tiệc tối hôm ấy tôi hội ngộ người láng giềng sau nửa thế kỷ. Thật ra, bạn về nước nhiều lần–làm ăn, du lịch–đều đến thăm mọi người trong gia đình tôi, vốn thân thiết từ xưa. Riêng tôi lần này trùng thời điểm bạn về nên là lần đầu tái ngộ. Gia đình bạn có vinh dự được ghi vào lịch sử Thuyền Nhân Việt tị nạn ở Úc. Là một trong những người đầu tiên vượt biên(1976), đồng thời cũng là người đầu tiên đặt chân lên xứ Kangourou. Tôi có đọc một bài viết của giáo sư Nguyễn văn Tuấn* trên diễn đàn Tạp Chí Thế Kỷ Mới, xin đăng lại nguyên văn:
“Cái mốc lịch sử của sự di dân từ Việt Nam đến Úc xảy ra vào tháng 4 năm 1976 khi chiếc thuyền từ Kiên Giang mang biển số KG4435 đến cảng Darwin (sau khi đã bị từ chối cho nhập bến ở Thái Lan, Mã Lai, Tân Gia Ba). Trên chiếc thuyền nhỏ đó có 5 người xin tị nạn…”
*Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn là một khoa học gia y khoa ngành dịch tể học và di truyền loãng xương. Có ít nhất 300- ba trăm- công trình nghiên cứu về hai ngành này. Gốc người Kiên Giang (thật hãnh diện cho dân Kiên Giang quá). Ông tốt nghiệp Tiến sĩ từ nhiều trường Đại học danh tiếng Úc, Mỹ. Từng là nghiên cứu sinh ở Anh, Thuỵ Sĩ (trời, tôi lại hãnh diện thêm nữa).
Ông được Tổng toàn quyền Úc đại diện Nữ hoàng Elizabeth trao huân chương vì những “Cống hiến quan trọng về nghiên cứu y khoa”
Tôi thắc mắc sao bài viết nói chỉ có 5 người trong khi gia đình bạn hơn mười mấy người, thì bạn giải thích là vì lúc đầu tàu ghé nhiều nước mà họ từ chối không nhận. Nên đến Thái Lan, ba má và các chị em gái tạm lánh ở nhà bà con (sau này chị em gái sang định cư Canada). Chỉ còn 5 thanh niên khoẻ mạnh tiếp tục lênh đênh trên sóng đại dương vô định, cho đến ngày tàu cập bến Darwin.
2/-
Ngày 02 và 03.12.2025
*Bùng binh Quách Thị Trang
Chiều tối chúng tôi dạo phố quận 1, trung tâm thành phố Saigon. Tôi không xa lạ gì khu vực quận 1. Trước 1975, chị em tôi ngụ nhà chú thím để đi học ở đường Lương Hữu Khánh cắt ngang Hồng Thập Tự và Bùi Thị Xuân.
Sau 1975, trước khi sang Thuỵ Sĩ, tôi từng tạm trú nhà vợ chồng người em bà con đường Nguyễn Huệ. Nay vợ chồng em không còn ở đây. Vài lần tôi có dịp đi ngang, chưa kịp nhận ra nơi mình từng sống thì xe đã lướt qua mất.
Lần này đi bộ tôi có thời gian quan sát nhìn ngó kỹ hơn. Xưa sống ở Sài Gòn tổng cộng hơn chục năm, nội thành và vùng phụ cận ngoại ô tôi đều đặt chân tới, có xa lạ gì. Thế mà giờ đây tôi hầu như không nhận diện được đâu là đâu. Nhà cửa, hàng quán mọc lên san sát, bảng quảng cáo chi chít, xe cộ dập dìu, đường đổi tên.
Quận 1 giờ mọc lên nhiều toà nhà cao tầng sang trọng tôi tưởng lạc vào thành phố Tây phương nào đó. Như gương mặt cô gái giải phẫu thẩm mỹ tô son điểm phấn đậm đà, diêm dúa. Hết rồi nét duyên dáng tự nhiên, thanh tao lịch lãm thuở nào.
Saigon trở thành xa lạ với tôi, hay chính tôi trở thành xa lạ với Saigon? Nói quanh co kiểu gì thì kết luận cũng y hệt nhau: Với Saigon hiện nay, tôi-chỉ-là-khách-lạ-ghé-qua, đơn giản vậy.
| Bùng binh Nguyễn Huệ |
Địa chỉ số 36, đường Nguyễn Huệ trước năm 75 nguyên thuỷ là khách sạn sáu tầng mà người chủ cũ bỏ đi–hay bị nhường lại(?) cho gia đình cán bộ của đời–mới vào ở. Chồng em họ tôi là một trong số. Sang đầu những năm 1990 toà nhà sáu tầng bị phá bỏ, những gia đình cán bộ được bồi thường số tiền khá lớn đủ để tái định cư nơi khác. Tôi hỏi các cháu có biết giờ ai là chủ nhân. Cháu không cần suy nghĩ trả lời tôi ngay, khiến tôi ngạc nhiên quá sức. Thì ra đây là địa chỉ rất nổi tiếng hiện nay, hầu như người Sài Gòn nào cũng biết. Tôi sẽ kể sau.
| Khách sạn Majectic |
Bùng binh có tượng bán thân Quách Thị Trang, tên người nữ sinh mất trong lúc biểu tình vào năm 1963. Ngoài ra còn một tượng tướng Trần Nguyên Hãn đặt trước cửa chính chợ. Là vị khai quốc công thần kiệt xuất góp phần chiến thắng quân Minh trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn phò vua Lê Lợi. Ông là cháu nội của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, bà con cô bác với Nguyễn Trãi.
Cả hai bức tượng đã biến mất, mất luôn danh từ “bùng binh” để thay vào là “vòng-xoay hay vòng-xuyến Chợ Bến Thành”
a) Vòng xoay? Tôi nghĩ đến cái vòng xoay, dụng cụ thể thao dành cho quý bà quý cô tròng vào người lắc từ phần eo trở xuống mông nhịp nhàng đều đặn xoay tròn từ trái sang phải, được quảng cáo sẽ đạt được vòng eo lý tưởng nhỏ thon săn chắc!!!
b) Vòng xuyến? Trong đầu tôi hiện lên hình ảnh cái vòng xuyến đeo nơi cổ tay (cũng) của quý bà quý cô bằng cẩm thạch hoặc vàng trơn hay chạm khắc, tuỳ.
| Khách sạn Continental |
Sở dĩ tôi bắt quàng xiên từ bùng binh Quách Thị Trang nhảy qua Khải Hoàn Môn, bởi tôi có dip leo lên tầng thượng của nó, ngắm bao quát toàn thành phố Paris bên dưới. Cảnh tượng ngoạn mục đập vào mắt gây ấn tượng mạnh nhất khi tôi cúi nhìn xuống đất. Dưới chân mình là bùng binh giao điểm của mười hai (12) đại lộ toả nhánh với khoảng cách hình học đều tăm tắp từ đồng tâm kéo dài ra ba quận 8,16,17, như một tác-phẩm-nghệ-thuật tinh xảo, hoàn hảo. Chỉ biết thốt lời tán thưởng: ồ, thật phi thường, thật vĩ đại biết bao!!! Người Pháp khi xây dựng một công trình nào họ đều nghiên cứu đo đạc kỹ lưỡng. Tôi ngắm không chán mắt. Càng đến Paris nhiều lần tôi càng ngưỡng phục yêu mến thành phố này với các kiến trúc lâu đài, viện bảo tàng, nhà thờ, công viên, toà tháp…người Pháp tự hào về nền văn minh tinh tế của họ là đúng rồi.
Như tôi đã vô cùng hãnh diện từng được sống ở Saigon vào thời kỳ mà thành phố được các quốc gia lân bang mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Tôi đã học hỏi, thu nhận kiến thức, phong cách giao tế của người Sài Gòn. Nơi đã mang cho tôi bao kỷ niệm ngọc ngà buồn vui thời thiếu nữ.
*Chợ Bến Thành
Đối diện bùng binh Quách Thị Trang là cửa Nam (cửa chính) Chợ Bến Thành nằm trên đường Lê Lợi, khi xưa dân gian quen gọi là Chợ Sài Gòn hay Chợ Mới để phân biệt với Chợ Cũ trên đường Hàm Nghi. Ở California, cộng đồng người Việt có khu chợ Little Saigon, để nhắc nhớ về Chợ Sài Gòn mà nay họ đã cách xa hàng ngàn cây số.
Trong chợ Sài Gòn có hàng trăm gian hàng bán đủ các loại hàng hoá trang sức, mỹ phẩm, mỹ nghệ, vải vóc, giày dép, valise, nón, guốc, đến thức ăn đồ uống, trái cây… tấp nập từ sáng đến chiều muộn 7/7. Phải chen nhau, luồn lách mà đi. Hai năm trước, vào dịp Tết tôi có đi dạo bên trong. Hàng hoá vẫn còn đầy ăm ắp trên các gian hàng (nào còn mở), nhìn vẫn hấp dẫn thu hút nhưng người bán hầu như chỉ ngồi nhàn nhã lướt điện thoại, không buồn mời chào dăm khách lèo tèo mà họ thừa biết mục đích ngắm nhìn nhiều hơn mua. Năm nay không biết có khả quan hơn?
Ga xe lửa:
Nếu trí nhớ tôi không nhầm lẫn thì bên hông chợ có ga xe lửa trải dài về hướng Phạm Ngũ Lão. Là nhà ga xe lửa đầu tiên của Đông Dương, tuyến Sài Gòn–Mỹ Tho, do người Pháp xây dựng. Ga nay đã dời về Hoà Hưng.
Hồi ấy đối với tôi, nói đến xe lửa là gợi nhắc đến truyện ngắn Hai Đứa Trẻ của nhà văn Thạch Lam thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Là gợi lên hình ảnh hai chị em sống ở phố huyện nghèo, tẻ nhạt nên tối nào dù buồn ngủ díp cả mắt vẫn cố thức đợi đoàn tàu đi ngang, để được nghe tiếng còi từ xa vang vọng, tiếng dồn toa rít mạnh, ánh đèn báo hiệu, và làn khói trắng…Là khát vọng thay đổi cuộc đời tăm tối.
Là chứng kiến những cuộc từ ly như trong thơ Nguyễn Bính:
Những cuộc chia lìa khởi tự đây
Cây đàn sum họp đứt từng dây
Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc
Lần lượt theo nhau suốt tối ngày…
…Những chiếc khăn mầu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn nầy?
(Những Bóng Người Trên Sân Ga, thơ Nguyễn Bính)
Là viễn ảnh tình buồn không đoạn kết như mấy câu thơ, tôi không biết tên tác giả:
Em hỡi hai đường sắt song song
Cùng nhau đi như hai cuộc sống
Nhưng không bao giờ cùng nhau gặp
Vì chúng chỉ là đường song song
(Tác giả: Ẩn danh, vô danh)
Năm 1973 tôi có dịp theo người chị đi xe lửa thăm anh bạn phi công của chị đóng quân ở phi trường Biên Hoà. Lần đầu đi xe lửa, lòng lâng lâng như thể giấc mơ từ trong thơ, trong tiểu thuyết hoá thành hiện thực. Khởi hành từ ga Sài Gòn, đến ga Bình Triệu băng ngang sông Saigon trên cầu Bình Lợi, qua Dĩ An rồi Biên Hoà.
Lần đầu tiên cũng là lần duy nhất tôi đi xe lửa ở Việt Nam.
Khi nào có dịp về Việt Nam tôi thử đi chơi bằng xe lửa xem có tân tiến, tiện lợi như xe lửa ở Thuỵ Sĩ nói riêng, và châu Âu nói chung không.
Xe bus, xe lam, xích lô:
Thời ấy dọc đường Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vẫn còn bến xe đi nội, ngoại thành. Sau năm 75, tôi dùng phương tiện xe bus hoặc xe làm để đi thăm người dì ở Thủ Đức, hoặc ra bến xe đò miền Tây về quê. Nhớ lần trên chuyến xe bus đông người, hết chỗ ngồi nên tôi phải đứng. Lúc người soát vé lại thu tiền mới hay tiền để trong túi quần bị móc sạch. May hôm ấy tôi đi cùng hai cô bạn nên mượn tiền họ trả,
chứ không thì mang tiếng cái mặt vậy mà đi lậu vé, hú hồn.
Thổ mộ:
Thật thú vị khi chúng tôi đến thăm bạn ở khu chợ Ông Tạ thường thấy các xe thổ mộ
(do ngựa kéo) chở đầy cần xé rau cải, nông sản từ Hóc Môn, Bà Điểm qua Bà Quẹo, ngã tư Bảy Hiền, chợ Hoà Hưng... Móng chân ngựa bịt sắt gõ lộc cộc trên đường, nghe thật vui tai. Tưởng tượng như mình đang sống ở thế kỷ 18, 19 vậy. Nhớ truyện Trong Gia Đình (En Famille) của văn sĩ Pháp Hector Malot, hai mẹ con cô bé Perrine 12 tuổi rong ruổi trên xe ngựa từ Ấn Độ về Pháp tìm cội nguồn bên nội. Khi vừa đến Paris thì mẹ cô bệnh nặng qua đời. Một thân côi cút nhờ nghị lực, dũng cảm phi thường, lòng tự trọng mà cô vượt qua nghịch cảnh, cuối cùng chinh phục trái tim của ông nội vốn khắt khe, định kiến với mẹ con cô.
Bây giờ hẳn không còn âm thanh tiếng chân ngựa kéo xe thổ mộ khua rộn vang trên đường phố Sài Gòn nữa.
Chiếc cầu nổi Thị Kiều
Không thể không nhắc đến 2 chiếc cầu nổi trước chợ Bến Thành bắc qua bùng binh Quách Thị Trang dành cho bộ hành để tránh luồng xe cộ lưu thông nguy hiểm. Tôi đọc báo thấy toàn công kích. Dân chúng (hay báo chí) đặt tên Thị Kiều hàm ý chê bai*. Dư luận cho rằng dựng cây cầu nơi đó vừa mất thẩm mỹ, chỉ là dịp cho quý-liền-ông giả vờ đến hứng gió ngắm cầu, nhưng thực ra là ngắm đùi các cô gái trẻ mặc mini-jupe (mode đang thịnh hành thời ấy) đi trên cầu là chính.
*Vì sao những ai, những gì bị xem thường, chê bai đều gán cho chữ Thị thế nhỉ? Chẳng hạn nhân vật Thị Mầu lên chùa lẳng lơ, mất nết, táo bạo trong truyện Oan Thị Kính (Ủa, Thị Kính là người nết na hiền thảo bị hàm oan mà). Còn phụ nữ nào “bị-khen” đẹp như Thị Nở thì thà là tát vô mặt còn hơn là so-sánh kiểu ấy.
Lúc chúng tôi lên Saigon học thì cây cầu vẫn còn. Hình như chúng tôi cũng có leo lên cầu một hai lần gì đó. Ngắm quang cảnh tấp nập xe, người qua lại bên dưới để biết cảm giác như thế nào.
Bị chê bai quá, ngài Đô-trưởng dự tính tháo dỡ. Chưa kịp thực hiện thì cầu bị gài mìn. Thủ phạm chết cùng lúc mìn nổ (là ai, phe nào chắc mọi người cũng đoán ra). Thế là thêm lý do để tháo bỏ cây cầu Thị Kiều, hình như vào cuối năm 1972.
Bệnh viện Sài Gòn
Còn có tên là bệnh viện Đô Thành, chuyên cấp cứu, điều trị nội ngoại, khoa. Nằm giữa hai góc Lê Lợi và Nguyễn Huệ, là bệnh viện hạng trung. Tuy nhiên cũng có nhiều khoa: cấp cứu, chẩn bệnh ngoại, nội khoa, nha khoa, mắt tai mũi họng, chụp quang tuyến…đầy đủ.
Nhớ lần một chị họ chở tôi đến bệnh viện, vào chỗ tiếp tân nói tên của một người thân yêu cầu xem giùm có vào cấp cứu ở đây không? Bởi “người mất tích” kia đi học rồi đi luôn cả ngày không về, khiến chúng tôi phập phồng lo sợ “nàng”gặp tai nạn gì. Họ dò danh sách, trả lời là không thấy tên. Chúng tôi thở phào mừng rỡ. Tối mịt người-mất-tích mới xuất hiện ở cửa. Thì ra “nàng” cúp cours lén đi thăm người yêu đang bị thương nằm điều trị ở Tổng Y Viện Cộng Hoà tận Gò Vấp, Phú Nhuận!!!
Những gì tôi kể trên đây (bịnh viện, nhà ga, xe, cầu..) đã “biến mất” tự đời nao rồi. Ngay cả cái danh từ “bùng-binh”, mấy ai còn xử dụng? Nhưng tôi tin rằng nó vẫn tồn tại dài lâu trong ký ức của bao người.
(Còn tiếp)
Thanh Hà
12 Jun 2026
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét